Click tham gia www.DIENDANXAYDUNG.vn & www.DDXD.vn trên Facebook
Click tham gia www.DIENDANXAYDUNG.vn & www.DDXD.vn trên Facebook
Click tham gia www.DIENDANXAYDUNG.vn & www.DDXD.vn trên Twitter
Click tham gia www.DIENDANXAYDUNG.vn & www.DDXD.vn trên G+
Click tham gia www.DIENDANXAYDUNG.vn & www.DDXD.vn trên Youtube
 
 
 
Cũ 05-09-2008, 11:03 AM   #1
kts.tphcm
Kiến Trúc Sư
 
kts.tphcm's Avatar
 

Tham gia: Feb 2008
Nơi ở: VP Trực Tuyến - TP HCM
Số bài: 2,552
Thanks: 2,762
Được cám ơn: 3,489
Ảnh: 191
Downloads: 217   |   Uploads: 180
Send a message via MSN to kts.tphcm Send a message via Yahoo to kts.tphcm
Point: 8229
Huân Chương Danh Dự
HUÂN CHƯƠNG CÔNG TRẠNG HUÂN CHƯƠNG HẠNG HAI HUÂN CHƯƠNG HẠNG TƯ HUÂN CHƯƠNG HẠNG BA CHỨNG CHỈ KS KC DDXD PRO 
Số huy chương: 5
Default Phương pháp thiết kế đê kè biển

Nội dung chính gồm 3 phần :

1. Chức năng và nhiệm vị thiết kế của đê kè và biển

2.Cơ chế hư hỏng

3.Thiết kế đê và kè mái

Link down để xem link ẩn

Tác giả : Thiều Quang Tuấn - ĐH Thủy Lợi
Nguồn: www.diendanxaydung.vn
__________________
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN XÂY DỰNG VIỆT (VIETCONS)
TRỤ SỞ: 528/59 ĐIỆN BIÊN PHỦ, P11, Q10, TP.HCM
Tel: (08)3981 8370 - 3981 8371 M: 0903813337
Email: để xem link ẩn - Web: để xem link ẩn
Phụ Trách TP HCM: Mr. Dương Quang
kts.tphcm vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 3 bạn cảm ơn kts.tphcm bài này:
gunter_moon (10-28-2008), ltv_ngocphuoc (06-28-2011), vubinh (10-14-2008)
Cũ 05-09-2008, 11:07 AM   #2
kts.tphcm
Kiến Trúc Sư
 
kts.tphcm's Avatar
 

Tham gia: Feb 2008
Nơi ở: VP Trực Tuyến - TP HCM
Số bài: 2,552
Thanks: 2,762
Được cám ơn: 3,489
Ảnh: 191
Downloads: 217   |   Uploads: 180
Send a message via MSN to kts.tphcm Send a message via Yahoo to kts.tphcm
Point: 8229
Huân Chương Danh Dự
HUÂN CHƯƠNG CÔNG TRẠNG HUÂN CHƯƠNG HẠNG HAI HUÂN CHƯƠNG HẠNG TƯ HUÂN CHƯƠNG HẠNG BA CHỨNG CHỈ KS KC DDXD PRO 
Số huy chương: 5
Default Công nghệ xây kè thảm bê-tông tự chèn đan lưới: Để bờ sông bớt lở…

TPHCM có hệ thống sông kênh rạch dày đặc với hơn 1.000 km. Tuy nhiên, cùng với quá trình đô thị hóa, hệ thống sông ngòi, kênh, rạch đó đã bị san lấp, lấn chiếm khắp nơi. Nỗi lo sạt bờ, nhà trôi, người chết, vì thế đã nhiều lần hiển hiện, mà nhiều vụ sạt lở ở Thanh Đa hiện nay là một trong những minh chứng rõ ràng nhất. Bên cạnh việc trả lại hành lang an toàn cho sông ngòi kênh rạch, nhu cầu xây kè để bảo vệ bờ sông sao cho thật vững chắc, an toàn đã trở thành yêu cầu cấp bách đối với các ngành chức năng.
  • Lời giải cho bài toán... công nghệ bờ kè
để xem link ẩn
Xây bờ kè bằng công nghệ mới.




Ảnh: NHƯ QUỲNH


Ông Lê Quang Việt, Trưởng Ban quản lý Khu Đường sông (Sở GTCC TPHCM), cho rằng trước đây việc xây kè tại những khu vực xoáy lỗ nông thật không dễ dàng và phải cần nguồn kinh phí khá lớn vì loại đá hộc sử dụng để thi công rất hiếm.
Chưa kể, cái khó của việc xây dựng bờ kè để bảo vệ bờ là phải thực hiện trong điều kiện hoàn toàn khô ráo nên tiến độ công trình hoàn toàn phụ thuộc vào diễn biến con nước.
Ngoài ra, áp lực từ những bức tường chắn bằng bê-tông đóng xuống nền đất để ngăn không cho dòng nước chảy vào trong quá trình thi công có thể làm phá vỡ liên kết đất ngay tại khu vực. Bản thân lớp vữa giúp gắn kết các viên đá cũng sẽ bong tróc sau một thời gian sử dụng làm dòng nước chảy qua những khe hở nên tiếp tục gây xói lở. Đối với khu vực xoáy lỗ sâu, việc sử dụng công nghệ thảm rọ đá bọc PVC càng bộc lộ nhiều nhược điểm, tuổi thọ công trình kè thực hiện bằng công nghệ thảm rọ đá bọc PVC rất ngắn.

Từ việc phân tích công nghệ thảm rọ đá bọc PVC, năm 2003, TS Phan Đức Tác (nguyên công tác tại Cục Quản lý đê điều PCLB Bộ NN-PTNT) đã nghiên cứu thành công và “trình làng” công nghệ xây kè “Thảm bê-tông tự chèn đan lưới”. Thảm có kết cấu 3 lớp: lớp trên là những tấm bản ghép khít với nhau che chắn tác động thủy lực xuống nền; lớp thứ 2 là lớp lưới thép liên kết đan cài các viên bê-tông tạo thành thảm. Riêng lớp thứ 3 là hệ chân định vị tự chèn làm nhiệm vụ che kín khe lắp ghép, liên kết trọng lượng và làm chân đanh chống trượt.
Công nghệ này có những tính năng mới nổi trội, khắc phục được nhược điểm của công nghệ cũ. Cụ thể là chiều dài thảm tùy thuộc chiều dài mái bờ cần bảo vệ, có thể dài đến 100m. Thảm được lắp ghép liên tục trên cạn hoặc trên phao bè, sau đó được đặt xuống bờ sông tại vị trí thiết kế. Mái công trình không bị chắp nối nhiều đoạn; thảm gồm các viên bê-tông P.Đ.TAC – M4414 trọng lượng 25kg, dày 12,5cm lắp ghép sát nhau, che chắn có hiệu quả tác động của dòng chảy, sóng ngầm gây xói lở bờ và có thể chống chịu được lưu tốc dòng chảy 7m/s; lưới thép có đường kính lớn, độ bền cao làm bè đệm chống lún, ổn định tổng thể với nền.
  • “Áo mới” cho hơn 20 bờ kè
Công nghệ này đã được Khu Đường sông TPHCM ứng dụng đối với bờ kè Mương Chuối (huyện Nhà Bè), từ tháng 10-2004. Theo đánh giá của các chuyên gia, kè chống xói lở bờ sông theo phương án công nghệ trải thảm bê-tông tự chèn đan lưới có chất lượng tuổi thọ cao so với các phương án kết cấu khác. Việc áp dụng công nghệ mới giúp tiết kiệm chi phí, chủ động được thời gian thi công (sử dụng các tấm bê-tông đã được đúc sẵn, thời gian linh động).
Với tiêu chí bảo vệ bờ bằng cách “mặc thêm áo”, công nghệ này không can thiệp sâu vào lòng đất giúp tránh được việc làm tổn hại những kết cấu xung quanh, đồng thời kiểm soát được chất lượng của công trình thi công. Ngoài ra, thảm được thi công trên dây chuyền công nghệ mới, đảm bảo chất lượng, trong khi giá thành không cao hơn loại thảm đá lưới thép bọc nhựa PVC với chi phí đầu tư từ 30-35 triệu/m.
Thảm bê-tông tự chèn đan lưới_Thảm P.Đ.TAC M4414 thuộc chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước “Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai” mã số KC.08-DA01.

Đến nay, công nghệ đã được áp dụng rộng khắp từ Bắc vào Nam với hơn 20 công trình: 560m tại kè Long Xuyên (tỉnh An Giang), 114m tại phà An Hòa (TP Long Xuyên), kè đê sông (tỉnh Quảng Bình), kè Cù Lao Ông Hổ sông Hậu (tỉnh An Giang), kè bảo vệ Tân Châu (tỉnh An Giang)…



Tác giả : SGGP
Nguồn: www.diendanxaydung.vn
__________________
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN XÂY DỰNG VIỆT (VIETCONS)
TRỤ SỞ: 528/59 ĐIỆN BIÊN PHỦ, P11, Q10, TP.HCM
Tel: (08)3981 8370 - 3981 8371 M: 0903813337
Email: để xem link ẩn - Web: để xem link ẩn
Phụ Trách TP HCM: Mr. Dương Quang
kts.tphcm vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Thành viên cám ơn kts.tphcm vì bài này:
vuducthuanct39 (04-22-2010)
Cũ 05-09-2008, 11:12 AM   #3
kts.tphcm
Kiến Trúc Sư
 
kts.tphcm's Avatar
 

Tham gia: Feb 2008
Nơi ở: VP Trực Tuyến - TP HCM
Số bài: 2,552
Thanks: 2,762
Được cám ơn: 3,489
Ảnh: 191
Downloads: 217   |   Uploads: 180
Send a message via MSN to kts.tphcm Send a message via Yahoo to kts.tphcm
Point: 8229
Huân Chương Danh Dự
HUÂN CHƯƠNG CÔNG TRẠNG HUÂN CHƯƠNG HẠNG HAI HUÂN CHƯƠNG HẠNG TƯ HUÂN CHƯƠNG HẠNG BA CHỨNG CHỈ KS KC DDXD PRO 
Số huy chương: 5
Default Một số giải pháp về thiết kế và thi công KCCT có sử dụng cọc ván thép Nhật

1. Lời mở đầu
Công nghệ cọc ván thép là công nghệ mang tính truyền thống được áp dụng rộng rãi trên 100năm trong các công trình cảng, công trình sông, công trình tường chắn đất và các công trình nền móng.


Từ năm 1940 đến những năm 50, ở nước ngoài, thành quả nghiên cứu thực tế và lý thuyết của Terzaghi hay Rowe về cơ bản đã được xác lập trong thời kỳ này về lý thuyết. Ở Nhật Bản cũng vậy, trải qua một thời gian dài trưởng thành từ năm 1950 đến những năm 70, công nghệ cọc ván thép đã phát triển vượt bậc cả về chất lượng và số lượng. Gần đây nó cũng được áp dụng trong việc giảm tiếng ồn, giảm rung lắc và cũng được áp dụng trong các công trình ở các thành phố. Cọc ván thép ở Nhật Bản, trải qua hơn 70 năm, đến nay Nhật Bản trở thành nước có sản lượng cọc ván thép rất lớn trên thế giới, nó được xuất khẩu sang các nước khác nhiều hơn là ở Nhật Bản. Trong bài này tác giả sẽ trình bày về sự biến đổi về mặt vật liệu và thi công cuả công nghệ ván cọc thép ở Nhật Bản cũng như các công nghệ sử dụng cọc ván thép.
2. Sự biến đổi vật liệu cọc ván thép.
2.1. Lịch sử của việc sản xuất cọc ván thép.
Công nghệ cọc ván thép ở Nhật Bản được bắt đầu từ việc sử dụng cọc ván thép trong các công trình tường chắn đất của toà nhà Misui năm 1930. Sau đó để khôi phục sau hoả hoạn trong trận động đất Kanto năm 1923, một số lượng lớn cọc ván thép từ các nước trên thế giới đã được nhập vào để khôi phục các công trình cảng, sông một cách nhanh chóng, mở ra một thời kỳ mới của công nghệ cọc ván thép. Nhân dịp này từ sau năm 1925, hàng năm có từ 3 đến 4 vạn tấn cọc ván thép được nhập vào. Khối lượng cọc ván thép nhập vào tiếp tục tăng nhanh đến năm thứ 5 năm SHOWA nhưng đến năm 1931 do ảnh hưởng của tình trạng suy thoái kinh tế lớn mà khối lượng cọc ván thép nhập vào giảm đi mạnh mẽ.
Mặt khác với sự hỗ trợ của chính sách ngăn chặn việc nhập khẩu do sự suy thoái của nền kinh tế và việc cải thiện trao đổi thu chi, từ năm 1929 công ty thép Yahata của Chính phủ đã thành công trong việc quốc sản hoá cọc ván thép và năm 1931 lần đầu tiên cán và bán ra được 2500tấn cọc ván thép hệ Lakawana, từ đó trở đi việc nhập khẩu cọc ván thép gần như là không có.
Hiện nay, hình dạng cọc ván thép được sản xuất ra là hình chữ U hay hình đường thẳng, ngoài ra nó còn có dạng hình chữ H.
Lịch sử của cọc ván thép ở Nhật Bản:
1931: Bắt đầu sản xuất cọc ván thép hình chữ U (dạng Lakawana)”Kiểu SPII”
1955: Bắt đầu sản xuất cọc ván thép hình đường thẳng “SP-F”
1959: Bắt đầu sản xuất cọc ván thép hình chữ z “Z-45”
1960: Bắt đầu sản xuất cọc ván thép hình chữ U (dạng Laruzen) “SP…”
1967: Thành lập Tiêu chuẩn JIS: JIS A5528: 1967
1987: Ngừng sản xuất cọc ván hình chữ U dạng Lakawana
1997: Ngừng sản xuất cọc ván thép hình chữ Z.
1997: Bắt đầu sản xuất cọc ván thép cỡ lớn hình chữ U với chiều rộng có hiệu là 600mm
2000: Sửa đổi lại Tiêu chuẩn JIS thành tiêu chuẩn “JIS A5523:2000. Cọc ván thép cán nóng dùng cho hàn”
2.2. Vật liệu cọc ván thép gần đây:
(1)Cọc ván thép hình chữ H
Cọc ván thép hình chữ H là dạng tường có độ cứng cao hình chữ H được tổ hợp hàn từ cọc ván thép hình đường thẳng và bản thép hay thép hình CT và thép.Dạng kết cấu không phải là dạng cán nguyên hình như thép hình chữ H mà là dạng tổ hợp hàn. Nhờ có đặc tính hình dạng mặt cắt, cọc ván thép hình chữ H có ưu điểm lớn là phát huy được hiệu quả độ cứng chống uốn cao với yếu tố quan trọng của dạng tường.
Quan hệ giữa chiều dày tường của cọc ván thép hình chữ H và mô men quán tính thứ cấp của mặt cắt. So với dạng tường hàng cột đất, nó có khả năng đảm bảo tính năng mặt cắt đồng đều với chiều dày tường mỏng.
(2) Tiêu chuẩn của cọc ván thép
Đối với cọc ván thép, đến năm 1967 mới thành lập Tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản JIS A5528, quy định thành phần hoá học, tính chất cơ lý, kích thước. Khi đó trong Tiêu chuẩn cũng bao gồm cả cọc ván thép. Sau đó năm 1963, Tiêu chuẩn của cọc ống thép được tách ra thành Tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản JIS A5528.
Năm 1993 với trận động đất pử Kushiro, do sự phá hoại mặt cắt ở phần mối hàn của cọc ván thép, qua sự hợp tác của Chính phủ, các nhà sản xuất và các trường đại học, việc điều tra, nghiên cứu, phát triển cọc ván thép có mối hàn đã được thực hiện. Kết quả là năm 2000 Tiêu chuẩn cọc ván thép có tính hàng cao đã được quy định trong Tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản “JIS A5528 Cọc ván thép cán nóng cho mối hàn”.
Do đó cùng với việc cải tiến hành dạng, sự tăng cao về chất lượng mà vật liệu cọc ván thép từng bước được nâng cao.
3. Sự biến đổi của công nghệ cọc ván thép.
3.1. Công nghệ đóng rung bằng búa rung.
(1) Khái quát và những cải tiến của búa rung.
Năm 1960, búa rung đã được nhập vào từ Liên Xô cũ, năm 1965 sau khi quốc sản hoá, búa rung của Nhật Bản đã đáp ứng được với nhu cầu của thời đại nhờ tính tiện lợi có thể kiêm đóng xuống và nhổ lên,vừa được phổ cập nhanh chóng vừa được sử dụng mang tính đa năng. Búa rung vừa giảm tiếng ồn vừa sử dụng mô tơ điện. Gần đây nhờ có “giảm biên độ dao động xuất hiện do sử dụng mô tơ đầu“ hay “có bộ điều khiển khi dừng lại và khởi động không mômen”, do loại bỏ được tiếng ồn và dao động đột xuất do cộng hưởng của cần cầu và nền đất xuất hiện khi khởi động và dừng lại, công tác thi công giảm độ rung và tiếng ồn đã được thực hiện.
(2) Cấu tạo của búa rung và nguyên lý đóng cọc.
Búa rung được cấu tạo tìư các bộ phận:
Thiết bị giảm chấn;
Máy tạo xung (thiết bị làm xuất hiện dao động)
Máy kẹp cọc (thiết bị liên kết cứng giữa cọc và máy tạo xung, truyền lực dao động vào cọc);
Thiết bị điều khiển (thiết bị điều khiển điện hay dầu).
Khi tác dụng lực dao động vào nền đất xung quanh cọc ván thép bằng búa rung, sự kết hợp giưũa các hạt đất cấu tạo nên đất nhất thời giảm xuống rõ rệt. Đối với đất cát, do hiện tượng lưu động mà sức kháng của đất mất đi hẳn, đối với đất sét (đất dính hay đất sét), bằng lực dao động kết cấu khung của đất nên cọc thép có khả năng đóng xuống nhờ lực cắt. Đất khi tác dụng lực dao động bằng tốc độ nào đó, liên kết giữa các hạt đất yếu đi, sức kháng của đất nhất thời giảm đi rõ rệt. Đối với đất cát, do hiện tượng lưu động mà sức kháng của đất mất đi hẳn, đối với đất sét (đất dính hay đất sét), bằng lực dao động kết cấu khung của đất nên cọc ván thép có khả năng đóng xuống nhờ lực cắt. Đất khi tác dụng lực dao động bằng tốc độ nào đó, liên kết giữa các hạt đất yếu đi, sức kháng của đất nhất thời nhở đi. Độ lớn này có được hiệu quả khi tần số dao động >50Hz đối với đất cát, >50Hz đối với đất sét. Nguyên lý đóng cọc ván thép bằng búa rung là cho lực dao động cưỡng bức có được nhờ máy tạo xung tác dụng vào cọc ván thép bằng búa rung là cho lực dao động cưỡng bức có được nhờ máy tạo xung tác dụng vào cọc, bằng việc lợi dụng hiện tượng nói trên, tuỳ thuộc vào loại đất mà làm giảm lực ma sát xung quanh cọc ván thép và lực kháng đầu cọc xuống từ tĩnh sang động. Để cọc ván thép được xuống, các điều kiện sau cần phải được thoả mãn:
P0 > Tv
( W+Wp) >Rv
(3) Phân loại các phương pháp.
Phương pháp đóng cọc sử dụng búa rung được chia làm 2 loại: Phương pháp búa rung không sử dụng công nghệ hỗ trợ và phương pháp búa rung sử dụng cắt bằng tia nước phun cao áp.
Phương pháp sử dụng phun có thể đápứng cho tất cả các nền đất không liên quan đến sự khoẻ yếu của nền đất thi công, so với các phương pháp khác nó còn có đặc tính thi công nhanh chóng.
Đặc biệt nó có khả năng thi công nổi trội là đóng đến nền đá có giá trị tính đổi: N=200-500 hay nền cứng như có trộn lẫn đá đường kính 200mm.
Ngoài ra khi đóng cọc ván thép, khi đối tượng bị ảnh hưởng bởi độ rung và tiếng ồn cần có biện pháp đối phó, sử dụng phương pháp này nhờ nước phun vào sẽ có hiệu quả giảm độ rung và tiếng ồn là đáng kể.
Phương pháp búa rung được áp dụng cho nền đất có giá trị N nhỏ hơn 50. Người ta sử dụng loại máy búa rung áp lực dầu với máy móc cần thiết là cần cẩu và búa rung (nhóm thiết bị tiêu chuẩn của búa rung), do đó đây là phương pháp sử dụng đa năng với máy móc sẵn có.
3.2. Phương pháp xuyên nén bằng máy nén.
Ở Nhật Bản hầu hết máy móc xây dựng đều được chế tạo dựa vào công nghệ của nước ngoài. Trong lĩnh vực máy đóng cọc cũng vậy trải qua việc nhập khẩu rồi theo con đường quốc sản hoá và tính năng hoá những nguyên lý hoạt động cho dao động hay đập không thay đổi, từ những năm 1960. ô nhiễm xây dựng đã biến thành vấn đề nghiêm trọng của xã hội.
Năm 1975, ưu tiên xử lý ô nhiễm được cho là yêu cầu của xã hội, bằng nguyên lý hoạt động độc lập không gây ô nhiễm (nguyên lý nén ép), máy nén kéo nhổ cọc kiểu áp lực dầu đã được ra đời. Từ khi phát minh ra nguyên lý cơ bản đến khi chế tạo nên sản phẩm, tất cả đều được thực hiện ở Nhật Bản và là máy xây dựng quốc sản đơn giản đã được sử dụng.
(1)Nguyên lý nén ép.
Đối với việc đưa cọc ván thép xuống lóng đất mà không gây rung động hay tiếng ồn, cần phải có cơ cấu kháng lại tải trọng tĩnh lớn do sức kháng xuyên và phản lực tác dụng của nó. Do đó máy nén ép có nguyên lý cơ bản là kẹp lấy một số cọc ván thép đã được đóng vào trong lòng đất làm phản lực, xuyên cọc ván thép tiếp theo vào trong lòng đất bằng tải trọng tĩnh nhờ áp lực dầu.
(2) Các phương pháp nén ép.
Máy nén ép yêu cầu phản lực lên cọc ván thép đã được thi công trước, có khả năng kẹp lấy cọc ván thép trong khi thi công, vừa tự chạy vừa tiến hành công tác liên tục. Phát triển nguyên lý này, phương pháp hệ thống GPR có thể hoàn thành toàn bộ quá trình cần thiết trên cọc đã thi công ở kết cấu tường liên tục (từ năm 1982). Nhờ có việc tiến hành vận chuyển, treo và ép cọc ván thép bằng toàn bộ đầu cọc nên có thể cực tiểu hoá phạm vi ảnh hưởng của công trình chỉ trong chiều rộng máy thi công trên cọc ván thép. Do đó, tại các khu vực đất xung quanh là nước, đất nghiêng, đất không bằng phẳng hay đất bị hạn chế, không cần cầu tạm hay đường công vụ, không gây ảnh hưởng tới môi trường xung quanh hay trầm tích sông, có thể chỉ tiếnhành thi công kết cấu thể tường với mục đích ban đầu một cách hợp lý.
Đối với việc xây dựng cầu dầm hay tăng cường chống động đất trụ cầu có phần dưới bị hạn chế không gian mạnh, máy rung tịnh không chuyên dụng chiếm không gian cực thấp (từ năm 1085) có khả năng thi công không cản trở giao thông. Từ quan điểm lưu thông và chống hoả hoạn trở thành công nghệ thi công mang tính thời kỳ không thể thiếu được đối với việc tái sinh thành phố.
(3) Thi công trên nền đá cứng
Đối với nền có giá trị N lớn nhất từ 25-50, đặc biệt là nền đất cát hay thi công cọc dài, người ta sử dụng phương pháp phun nước. Hệ thống phun eco máy nén ép chuyên dụng nối liên tục ở động tác ép nén điều tiết tự động lượng phun ra, do đó có thể hạn chế tối thiểu được ảnh hưởng của nền đất đồng thời hạn chế tối thiểu tài nguyên.
Đối với nền đất cứng có giá trị N vượt quá 50 như đá dăm, đá cuội hay đá tảng dựa vào máy rung phá sử dụng lý thuyết không có lõi (từ năm 1997) phương pháp dọn sạch nền đất cứng có thể thích hợp. Bằng máy nén ép và thiết bị điều khiển nhất thể, đào nền thẳng xuống dưới mũi cọc, điều khiển sự xuất hiện bầu áp lực nén và kéo nhổ mũi khoan ngay tức thời, đồng thời xuyên cọc vào trong lòng đât sao cho lấp đầy lỗ đó. Đường kính đào hạn chế nhỏ nên lượng đất thải ra ít vừa giảm thiểu được ảnh hưởng tới môi trường vừa giảm được ảnh hưởng sức kháng xuyên. Tuỳ thuộc vào phương pháp dọn sạch nền đất cứng mà áp lực nén cọc ván thép lên nền đá được phân loại cho đá cứng loại I, loại II, loại trung như đá dăm, đá cuội hay đá tảng.
(4) Phương pháp quản lý thi công.
Bằng nguyên lý nén, nhờ có sự tác dụng tải trọng tĩnh lên đầu cọc ứng lực kháng xuyên nên từng cọc trở thành cọc thí nghiệm chất tải. Do đó máy nén ép phân tích các loại số liệu đo được tự động bằng chương trình chuyên dụng (hệ thống quản lý nén ép, từ năm 2002), nhờ việc nắm được tình trạng xuyên trong lòng đất hay sức chịu tải của từng cọc ván thép tại thời gian thực hiện nên có thể tiến hành quản lý chất lượng sản phẩm một cách chính thức.
3.3 Phương pháp nén ép sử dụng mũi khoan
Phương pháp nén ép sử dụng mũi khoan đất là phương pháp không cần máy chuyên dụng, nói chung được cấu thành từ máy đóng cọc kiểu 3 điểm, mũi khoan đất và dễ dàng tháo lắp, nó có các đặc điểm sau:
Có thể thi công giảm độ rung và tiếng ồn
Phạm vi áp dụng rộng rãi cho mọi loại đất.
Tiến hành công tác thi công nén ép không sử dụng khoan tuỳ từng trường hợp ứng với điều kiện địa chất và điều kiện thi công.
Có thể tiêm vữa từ mũi xoắn hoá cứng nền đất.
4. Giới thiệu các loại công nghệ sử dụng cọc ván thép.
4.1. Cảng, sông
Phương pháp tường chắn cọc ván thép kiểu tự đứng.
Tường chắn cọc ván thép kiểu tự đứng là kết cấu chống đỡ các tải trọng như áp lực đất và áp lực nước. So với tường chắn cọc ván thép kiểu dây neo thì thi công đơn giản hơn, thời gian thi công ngắn hơn và do có khả năng thi công ở những nơi có đất đắp phía sau hẹp nên được sử dụng rộng rãi ở những tường kè đường có nước nông nghiệp hay tường kè sông.
Phương pháp tường chắn cọc ván thép kiểu dây neo:
Tường chắn cọc ván thép kiểu dây neo là kết cấu chống đỡ tải trọng của áp lực đất và áp lực nước tuỳ theo sức kháng ngang của phần xiên vào và sức kháng ngang của cọc neo phía sau được liên kết vào bằng dây neo. Do đó thường được lựa chọn cho các tường kè lớn hay các kè bảo vệ nền đất tương đối yếu.
Phương pháp tường chắn cọc ván thép kiểu tổ ong:
Đóng các cọc ván thép hình đường thẳng theo hình tròn, nhồi đá dăm hay cát vào trong lòng tạo thành một hình tổ ong cọc ván thép hình thẳng đứng thành một thể liên tục, vỏ thép mỏng và chất nhồi bên trong tạo thành một thể thống nhất, là kết cấu kháng lại ngoại lực. Sử dụng cọc ván thép hình đường thẳng có trọng lượng riêng ở vỏ thép nhẹ hơn so với cọc ván thép hình chữ U, tác dụng cường độ kéo của nó lớn nhất nên là kết cấu cần ít thép, mang tính kinh tế.
Tường cách nước thẳng đứng dành cho những nơi xử lý chất thải ở mặt biển:
Đối với những trường hợp sử dụng cọc ván thép ở tường cách nước thẳng đứng ở những nơi xử lý chất thải, nói chung thường dùng phương pháp xử lý cách nước bôi chất ngăn nước có tính trương nở vào tai nối của cọc ván thép. Để đảm bảo tính cách nước của kết cấu vĩnh cửu, chất ngăn nước có tính vĩnh cửu sử dụng nhựa polyurethan có tính trương nở. Nhựa polyurethan của chất trương nở khi hấp thụ nước sẽ trương nở từ 5 đến 10 lần, hình thành chất nhựa hoá cứng có tính trương nở và ngăn nước cho khe hở của tai nối nhờ áp lực nhựa.
Biện pháp đối với rò rỉ nước nền của đê sông:
Do mực nước ở sông dâng cao hơn khi có mưa lớn, nước nền rò rỉ xuất hiện trong đê, chân đê
bị sụp lở dẫn đến bị phá hoại. Biện pháp đối phó với việc rò rỉ nước nền của đê sông như thế này là phương pháp đóng cọc ván thép sử dụng ngăn nước cho chân đê phía trong. Sự xác nhận hiệu quả sau khi phân tích dòng thẩm thấu.
Biện pháp đối với hoá lỏng
(1)Biện pháp đối với hoá lỏng của kết cấu đắp đất.
Đối với kết cấu đắp đất của đê điều trên sông, trường hợp nền đất bị hoá lỏng khi có động đất, sức chịu tải giảm đ làm cho sự chống đỡ tải trọng đất đắp bị mất đi, xuất hiện các hiện tượng biến đổi như “trượt”, “sụt”, “lở”. Do đó nhờ có việc đóng cọc ván thép trong nền đất cơ bản mà ngăn ngừa được sự biến dạng của đất đắp nhờ độ cứng chống uốn của cọc ván thép, có thể giảm được hư hỏng nền đắp.
(2). Biện pháp đối với hoá lỏng của kết cấu trong lòng đất.
Đối với kết cấu trong lòng đất như rãnh đôi khi có động đất nền đất xung qanh bị hoá lỏng, do nước bùn hoá lỏng nên có lực đẩy nổi tác dụng vào kết cấu, đồng thời lực kháng bị giảm xuống, lực đẩy tăng lên, xuất hiện hiện tượng biến dạng. Do đó nhờ có việc bố trí các cọc ván thép xung quanh kết cấu trong lòng đất mà phòng chống được tấn công của đất cát đã bị hoá lỏng xung quanh kết cấu, có thể ngăn ngùa được sự phá hoại do đẩy nổi.
4.3 Các áp dụng mới.
(1) Tường chắn cho đường
Tường chắn cọc ván thép kiểu tự đứng là tường chắn kiểu chống áp lực đất bên hông chỉ nhờ sức kháng ngang của đất phần cọc xiên vào và độ cứng chống uốn của tường. Đặc điểm của phương pháp này là:
1. Chiều dày tường mỏng, diện tích chiếm dụng hẹp nên có thể tiết kiệm được đất chiếm dụng.
2. Không cần có đất đắp tạm thời và có thể xây dựng tường kiêm luôn là kết cấu ngăn đất tạm cho thi công;
3. Không cần phải cải tạo nền đất khi là đất yếu;
4. Có khả năng tạo cảnh quan điều hoà cho môi trường xung quanh nhờ có sơn phủ và các tấm panel trang trí.
(2)Biện pháp chống lún đất đắp
Khi tiến hành đắp đất đường bộ trên nền đất yếu, hiện tượng lún nén bằng trọng lượng đất đắp xuất hiện kéo theo nền đất xung quanh cũng lún theo.
Nhờ có việc bố trí tường cọc ván thép giữa phần đất đắp và kết cấu liền kề mà có thể ngăn được ảnh hưởng của hiện tượng lún kéo theo. Đặc điểm của phương pháp này là:
1. Có thể tăng nhanh tốc độ thi công nên có thể rút ngắn thời hạn thi công;
2. Có khả năng thi công giảm độ rung và tiếng ồn ở nơi chật hẹp gần kề với kết cấu đã thi công rồi;
3. Không sợ ô nhiễm nước ngầm đối với biện pháp cải tạo nền đất bằng xi măng.
Một ví dụ về quan trắc lượng lún của nền đất sau khi đóng cọc ván thép giảm lún. Lượng lún của lớp dưới phía trong lề trải qua 7 năm đóng cọc ván thép chỉ lún 2cm, nó đã phát huy được hiệu quả mong muốn khá tốt.
5. Kết luận:
Trên đây là một số giải pháp mới nhất và những thay đổi về vật liệu, thi công, kỹ thuật sử dụng ở Nhật Bản đối với công nghệ cọc ván thép. Đối với nhu cầu xã hội gần đây như” giảm thiểu giá thành”, “môi trường”, công nghệ cọc ván thép đã từng bước năng cao, so với giai đoạn cán cọc ván thép trước những năm 1970 thì có thể nói rằng nó được phát triển vượt bậc. Trong tương lai với nhu cầu mang tính xã hội và sử dụng mới, những phát minh về kỹ thuật vật liệu, thi công và sử dụng sẽ còn phát triển hơn nữa.


Tác giả : Tài liệu Hội thảo KH về ứng dụng kết cấu thép trong xây dựng công trình ở Việt Nam, 11/2006
Nguồn: www.diendanxaydung.vn
__________________
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN XÂY DỰNG VIỆT (VIETCONS)
TRỤ SỞ: 528/59 ĐIỆN BIÊN PHỦ, P11, Q10, TP.HCM
Tel: (08)3981 8370 - 3981 8371 M: 0903813337
Email: để xem link ẩn - Web: để xem link ẩn
Phụ Trách TP HCM: Mr. Dương Quang
kts.tphcm vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Thành viên cám ơn kts.tphcm vì bài này:
vuducthuanct39 (04-22-2010)
Cũ 04-27-2009, 12:16 AM   #4
terry11
User Register - Thành Viên
 

Tham gia: Jan 2009
Nơi ở: 459 Đội Cấn Hà Nội
Số bài: 2
Thanks: 0
Được cám ơn: 0
Downloads: 19   |   Uploads: 0
Point: 79
Default

Bạn có file excel nào về tính ổn định tường kè (tường chắn) không? , nếu có gửi cho mình tham khảo với. Thanks you!!
Nguồn: www.diendanxaydung.vn
terry11 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Cũ 04-27-2009, 12:17 AM   #5
terry11
User Register - Thành Viên
 

Tham gia: Jan 2009
Nơi ở: 459 Đội Cấn Hà Nội
Số bài: 2
Thanks: 0
Được cám ơn: 0
Downloads: 19   |   Uploads: 0
Point: 79
Default

Địa chỉ gửi là: để xem link ẩn. Thanks
Nguồn: www.diendanxaydung.vn
terry11 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Cũ 01-12-2010, 02:37 PM   #6
phuthanh96
User Register - Thành Viên
 

Tham gia: Dec 2009
Nơi ở: 45ĐIÊN BIÊN PHỦ
Số bài: 3
Thanks: 0
Được cám ơn: 0
Downloads: 10   |   Uploads: 0
Point: 0
Default

mấy anh ơi !có ai có file cad về thảm bê tông tự chèn đan lưới này ko. Em đang rất cần
gmail : để xem link ẩn
em rất cảm ơn và xin hậu tạ 1 chầu cafe ^^
Nguồn: www.diendanxaydung.vn
phuthanh96 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Cũ 11-13-2012, 09:27 AM   #7
xuankhai789
User Register - Thành Viên
 

Tham gia: Nov 2012
Nơi ở: xuankhai789@yahoo.com
Số bài: 1
Thanks: 0
Được cám ơn: 0
Downloads: 2   |   Uploads: 0
Point: 0
Default

Bác nào có file excel tính toán kè dạng cọc + tấm đan cho em với. Em cảm ơn. Địa chỉ: để xem link ẩn
Nguồn: www.diendanxaydung.vn
xuankhai789 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Gởi Ðề Tài Mới  Trả lời

Bookmarks


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Hạn Của Bạn
Bạn không có quyền đăng chủ đề mới
Bạn không có quyền đăng trả lời bài
Bạn không có quyền đính kèm files
Bạn không có quyền sửa bài của mình

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các bài viết có nội dung tương tự
Ðề tài Người Gởi Chuyên Mục Trả lời Bài mới nhất
Công tác thiết kế và thẩm định thiết kế! forever 2.Thẩm định t.kế cơ sở 4 08-19-2009 06:17 PM
Giới thiệu phần mềm hỗ trợ kỹ sư thiết kế Admin Phần mềm khác 1 07-07-2009 12:44 AM
CALDsoft - Phần mềm thiết kế kết cấu bản vẽ, gò hàn trong cơ khí xây dựng... LovePascal Phần mềm khác 1 09-17-2008 01:12 PM
Phương án thiết kế : Thư viện khoa học tổng hợp thành phố Đà Nẵng. thienkim Thế giới bốn phương - The four corners of the earth 0 04-13-2008 02:03 PM
Biên bản xét thầu thiết kế Phoenix 4.Chọn thầu tư vấn 0 03-25-2008 07:12 PM


MENU
MENU*: |BAN QUẢN TRỊ| AWARD| NEWS| DOWNLOAD| POINT| BLOGS| PICTURE| VIDEO| MUSIC| GAMES|
|TOP| F00| F01| F03| F04| F05| F06| F07| F08| F09| F10| F11| F12| F13| F14| F16| F17| F18| F19| F20|

Powered by: vBulletin v3.8.4 & Copyright © 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.
Copyright © 2007-2011 DDXDVN & Tài trợ bởi www.CUNGXAYNHADEP.vn
Số ÐKKD: 4102071288 - Hỗ trợ pháp lý DDXĐVN bởi: Viet Cons Co.,Ltd
Người đại diện theo pháp luật: Ông Duong Quang (Administrator)
Hotline Administrator: 0903813337 - Email: duongquang@ddxd.vn
Trang mạng xã hội : Diễn Đàn Xây Dựng Việt Nam
DDXĐVN : Được duy trì và phát triển bởi thành viên
Văn phòng : 2649 Phạm Thế Hiến, P7, Q8, TP HCM
Tel:(08)3981 8370 - 3981 8371 Fax:(08)3981 8372
E-mail : support@ddxd.vn - duongquang@ddxd.vn