Click tham gia www.DIENDANXAYDUNG.vn & www.DDXD.vn trên Facebook
Click tham gia www.DIENDANXAYDUNG.vn & www.DDXD.vn trên Twitter
Click tham gia www.DIENDANXAYDUNG.vn & www.DDXD.vn trên G+
Click tham gia www.DIENDANXAYDUNG.vn & www.DDXD.vn trên Youtube
 
 
 
Cũ 01-22-2008, 08:05 PM   #1
chiase.nhadep
SMOD - QTV Cao Cấp
 
chiase.nhadep's Avatar
 

Tham gia: Dec 2007
Nơi ở: 2649 Phạm Thế Hiển, P7, Q8, TP HCM
Số bài: 1,001
Thanks: 48
Được cám ơn: 154
Ảnh: 32
Downloads: 8   |   Uploads: 11
Send a message via Skype™ to chiase.nhadep
Point: 12000
Default Một số vấn đề về hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài

Một số vấn đề về hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài
(zerofirst.com.vn) Hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài là dạng giao dịch tương đối phổ biến trong lĩnh vực xây dựng nhưng ít được nghiên cứu cặn kẽ về mặt lý thuyết.

Hệ thống pháp luật xây dựng hiện hành cũng không đề cập tới khái niệm này. Tuy nhiên, từ các yêu cầu thực tiễn của hoạt động xây dựng, việc nhìn nhận và đánh giá những vấn đề cơ bản của dạng hợp đồng này mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực.
1. Khái niệm hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài

Với bản chất là một loại giao dịch phổ biến trong hoạt động xây dựng, hợp đồng xây dựng là sự thỏa thuận giữa chủ đầu tư với nhà thầu (thầu chính, tổng thầu, thầu phụ) nhằm xác lập quyền, nghĩa vụ giữa các chủ thể này trong quá trình tạo lập sản phẩm xây dựng. Theo quy định của Bộ Luật Dân sự, hợp đồng xây dựng mang đặc điểm của hợp đồng dịch vụ, theo đó, nhà thầu thực hiện công việc (tư vấn, thi công) theo yêu cầu của bên mời thầu còn bên mời thầu phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng (nhà thầu).

Theo quy định và cách hiểu thực tế, hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài là giao dịch dân sự thỏa mãn một trong các dấu hiệu sau:

- Một trong các bên tham gia quan hệ hợp đồng là tổ chức, cá nhân nước ngoài;
- Tài sản liên quan tới quan hệ hợp đồng ở nước ngoài (tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản).

So với các hợp đồng xây dựng thông thường, hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài có một số đặc điểm khác biệt dễ nhận thấy về chủ thể hợp đồng, tài sản liên quan tới hợp đồng (thông thường dưới dạng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài). Đặc biệt, các vấn đề liên quan tới cơ chế thực thi dạng hợp đồng này là nội dung cần quan tâm bên cạnh các hợp đồng xây dựng trong nước.

2. Cơ chế thực hiện hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài

Cơ chế thực hiện hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài là toàn bộ những cách thức, biện pháp (pháp lý và thực tiễn) để thực hiện các cam kết trong hợp đồng nhằm tạo lập sản phẩm xây dựng. Điểm khác biệt lớn nhất so với hợp đồng thông thường là vấn đề giá hợp đồng, cơ chế thực thi và cơ chế giải quyết tranh chấp.

Điều dễ nhận thấy sự khác biệt giữa hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài so với hợp đồng trong nước là các nội dung hợp đồng được soạn thảo chi tiết, rõ ràng hơn. Các điều khoản bắt buộc của hợp đồng (đối tượng hợp đồng, thời gian, giá cả và thanh toán) được soạn thảo rất cụ thể, rõ ràng, hạn chế tối đa các thỏa thuận nguyên tắc mang tính chung chung.

Về mặt hình thức, hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài có sự tương thích về pháp luật cao hơn hẳn so với các hợp đồng xây dựng thông thường. Bởi lẽ, quá trình thực hiện các cam kết hợp đồng trên thực tế liên quan tới hàng loạt vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều văn bản trong các lĩnh vực khác nhau (lao động, thương mại, thuế, môi trường, ngân hàng, bảo hiểm….).

Để phòng ngừa rủi ro, ngoài sự chi tiết trong nội dung các điều khoản, giải quyết tranh chấp cũng là vấn đề mà các hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài đặc biệt quan tâm. Mặc dù không thể bị triệt tiêu quyền được bảo vệ khi lợi ích bị xâm phạm nhưng các chủ thể nước ngoài khi tham gia quan hệ hợp đồng luôn thể hiện quan điểm rất rõ ràng trong vấn đề này. Họ thường có xu hướng lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp theo hệ thống pháp luật mà họ am hiểu (nguyên tắc lựa chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp) hoặc cơ chế trọng tài thương mại. Bên Việt Nam khi tham gia hợp đồng cần lưu ý nguyên tắc này khi thương thảo, đàm phán hợp đồng. Điều này cũng lý giải tại sao, việc phạt vi phạm và đòi bồi thường thiệt hại (do vi phạm các cam kết hợp đồng) trong các hợp đồng có yếu tố nước ngoài dễ dàng hơn nhiều so với các hợp đồng xây dựng trong nước.

3. Chủ thể của hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài

a. Nhà thầu xây dựng nước ngoài:

- Bao gồm: Nhà thầu thi công xây dựng và nhà thầu tư vấn xây dựng

- Điều kiện để xác lập hợp đồng:

+ Trúng thầu xây dựng ở Việt nam

+ Được cấp giấy phép thầu theo quy định

4. Giá hợp đồng xây dựng yếu tố nước ngoài

- Căn cứ xác lập giá hợp đồng: Có khác biệt so với giá hợp đồng trong nước so với cùng tính chất, đặc điểm đối tượng hợp đồng

5. Cơ chế thực thi hợp đồng

- Tốt hơn so với hợp đồng trong nước, đặc biệt trong việc tuân thủ các cam kết về thời gian, chi phí, thanh toán, thưởng phạt...

- Giải quyết tranh chấp rõ ràng hơn, ưa thích cơ chế Trọng tài, hòa giải

6. Đối tượng của hợp đồng

Vấn đề đối tượng của hợp đồng xây dựng thường là một trong những vấn đề quan trọng nhất do tính chi phối có tính xác định của nội dung này. Theo quy định của Luật Xây dựng, hoạt động xây dựng bao gồm:

Với danh nghĩa là một hoạt động dịch vụ, việc thực hiện các hoạt động xây dựng cũng có nghĩa là các chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh khi công nhận một hoặc nhiều hoạt động xây dựng là đối tượng của hợp đồng.

Hiện nay có nhiều cách phân chia hợp đồng trong hoạt động xây dựng, phổ biến vẫn là cách chia theo đối tượng, bao gồm: hợp đồng tư vấn xây dựng, hợp đồng thi công xây dựng, hợp đồng tổng thầu xây dựng. Mỗi loại lại chia thành nhiều loại nhỏ, thể hiện tính trọn vẹn của công việc nào đó trong hoạt động xây dựng (lập dự án, thiết kế, thi công....).

Các vấn đề hay nảy sinh trong thực tiễn liên quan tới đối tượng hợp đồng thường tập trung vào 3 nhóm:

- Nhóm 1: Khó khăn trong việc xác định chính xác quy mô của đối tượng (khối lượng, phạm vi công việc)

- Nhóm 2: Khó khăn trong việc đánh giá tính chất của đối tượng (đơn giản, phức tạp):

- Nhóm 3: Khó khăn trong việc áp dụng loại giá hợp đồng theo quy mô, tính chất của đối tượng

Nhóm 3 là nhóm có nhiều vấn đề cần lý giải nhất do khả năng biến động hoặc khó nắm bắt của nó. Hiện nay có 03 loại giá hợp đồng đang được quy định là: giá trọn gói, giá điều chỉnh và đơn giá cố định. Mỗi loại giá có cách xác định khác nhau và được hiểu rất linh hoạt trên thực tế.

Vấn đề cần xem xét ở đây là:

- Loại công việc nào thì nên áp dụng loại giá nào cho thích hợp ? Điều này không thể quy định cứng vì bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận, các chủ thể có quyền lựa chọn cách thực hiện phù hợp nhất với họ.

- Tính chất công việc có ảnh hưởng gì tới việc áp dụng loại giá nào đó không ?

7. Một số vấn đề đặt ra

Cùng với quá trình hội nhập sâu vào đời sống kinh tế quốc tế, số lượng các hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài sẽ ngày một nhiều. Nhà nước ta cũng đứng trước yêu cầu phải xây dựng và thiết lập những khuôn khổ pháp lý chung nhằm điều tiết một cách bình đẳng với các hoạt động xây dựng trong nước. Điều dễ nhận thấy từ trước tới nay trong hoạt động xây dựng ở nước ta là sự không tương thích với kinh nghiệm và luật pháp quốc tế. Đương nhiên, thực tế này sẽ gây ra những khó khăn không nhỏ trong việc thiết lập các điều kiện bình đẳng trong cuộc chơi ngày một khốc liệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Khác biệt lớn nhất ở đây vẫn là giá hợp đồng và cơ chế thực thi các thỏa thuận hợp đồng. Thật khó chấp nhận nếu như cùng một công việc, tư vấn trong nước cũng có thể làm được với chất lượng tương đương nhưng giá trị hợp đồng lại thấp hơn so với khi sử dụng tư vấn nước ngoài nhiều lần. Đây là vấn đề chúng ta cần xem lại vì mục tiêu học hỏi, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước không thể thực hiện được nếu không giải quyết triệt để vấn đề này. Nói như vậy, không có nghĩa chúng ta không sử dụng tư vấn nước ngoài vì đội ngũ tư vấn trong nước của ta còn yếu kém về nhiều mặt.

Có một nội dung đáng lưu ý là các thủ tục trước khi ký kết hợp đồng. Thông thường các nhà thầu xây dựng nước ngoài khi trúng thầu xây dựng xây dựng tại Việt Nam, trước khi ký kết hợp đồng, các nhà thầu phải xin cấp giấy phép thầu theo quy định. Điều này cũng có nghĩa, khi chưa có giấy phép thầu thì hợp đồng xây dựng có sự tham gia của bên nước ngoài không hợp lệ. Xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia, việc duy trì giấy phép là cần thiết nhưng khi công nhận quy chế đối xử quốc gia (MFN) trong WTO thì việc xem xét lại thủ tục này cũng là điều cần tính tới.

8. Vấn đề các thỏa thuận trong hợp đồng

Các doanh nghiệp trong nước của chúng ta chưa quen với việc coi hợp đồng như sự thỏa thuận tối cao khi thực thi các hoạt động xây dựng. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng khái quát lại, chúng ta chưa có cơ chế thực thi các thỏa thuận hợp đồng một cách thỏa đáng. Khi tham gia sân chơi WTO, điều này phải thay đổi khi một bên của hợp đồng là các đối tác nước ngoài. Không hẳn là vấn đề họ chuyên nghiệp hơn ta mà còn vì uy tín và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam. Tỷ trọng vốn đầu tư dành cho xây dựng sẽ ngày một lớn, đa dạng về chủ đầu tư, đòi hỏi chữ tín cao hơn trong cung cấp dịch vụ....Chúng ta không thể chấp nhận tình trạng ngay trên lãnh thổ Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài không sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam mà thay vào đó là các doanh nghiệp xây dựng nước ngoài.

Theo thống kê, chúng ta hiện có 15.252 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, chiếm gần 13,46% tổng số doanh nghiệp (số lượng doanh nghiệp thực tế đang hoạt động đến 31/12/2005 là 113.352 doanh nghiệp, tăng 23,54% so với 31/12/2004). Tổng số DNNN là 4086, trong đó hoạt động trong lĩnh vực xây dựng chiếm 17,3%. Trong 5 năm từ 2001 - 2005, doanh thu bình quân của các DNNN xây dựng tăng 29,51%/năm nhưng hiệu quả sản xuất kinh doanh đạt thấp và có xu hướng giảm:

Cơ chế thị trường tôn trọng quy luật cạnh tranh. Điều này không thể dùng mệnh lệnh để can thiệp. Các doanh nghiệp xây dựng Việt nam cần tập trung tháo gỡ 4 điểm yếu căn bản là: trình độ công nghệ, năng lực quản lý, chất lượng lao động và sự lành mạnh về tài chính.

9. Tranh chấp và giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng

Tranh chấp là khái niệm có thể được hiểu theo rất nhiều nghĩa khác nhau và ở nhiều mức độ. Đó có thể là sự va chạm về lợi ích hoặc có sự thực hiện không đúng, không đầy đủ các cam kết trong hợp đồng giữa các chủ thể. Nguyên nhân của tranh chấp cũng rất đa dạng, có thể từ cách hiểu không thống nhất về nội dung hoặc xuất phát từ sự lừa dối, ép buộc....trong các điều khoản hợp đồng.

Hợp đồng xây dựng thuộc dạng hợp đồng có nguy cơ xảy ra tranh chấp cao do đặc điểm thuộc về đối tượng của dạng hợp đồng này: các hoạt động xây dựng thường phức tạp, liên quan tới nhiều chủ thể, thời gian dài, sử dụng nhiều nguồn lực cùng lúc.... Trên thực tế, các nguyên nhân tranh chấp liên quan tới hợp đồng xây dựng thường bắt nguồn từ sự không rõ ràng hoặc khó hiểu trong các điều khoản về giá, thời gian thực hiện các công việc theo hợp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên theo hợp đồng.

Thời gian qua, các doanh nghiệp xây dựng của ta đã đảm đương nhiều hợp đồng xây dựng quy mô lớn, độ phức tạp cao nhưng vẫn lộ rõ điểm yếu căn bản. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của việc thực thi các cam kết hợp đồng, đôi khi trở thành sức ép vì để có hợp đồng, chúng ta phải đưa ra những điều khoản mang tính thuyết phục nhưng khả năng thực thi đôi khi không phù hợp với các cam kết. Với cơ chế giải quyết tranh chấp WTO, chúng ta chắc chắn sẽ thua thiệt khi có va chạm xảy ra.

Trong cam kết mở cửa thị trường dịch vụ khi gia nhập WTO của Việt Nam thì dịch vụ xây dựng là đối tượng ít chịu sự tác động lớn. Theo đó, dịch vụ xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật có liên quan thuộc nhóm có mức độ mở cửa thị trường cao. Nhìn chung chúng ta không có sự hạn chế đối với các nhà thầu xây dựng nước ngoài, ngoại trừ sự hạn chế đối với các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong thời hạn 2 năm kể từ ngày Việt Nam gia nhập WTO (chỉ được cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các dự án có sự tài trợ của nước ngoài tại Việt Nam). Sau 3 năm từ khi chúng ta gia nhập WTO, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xây dựng 100% vốn nước ngoài được thành lập chi nhánh tại Việt Nam.

Về phạm vi cung cấp dịch vụ, trong văn kiện gia nhập WTO, chúng ta cam kết không hạn chế tiếp cận thị trường đối với các doanh nghiệp nước ngoài trong việc thi công xây dựng các công trình dân dụng; chưa cam kết trong việc thi công xây dựng nhà cao tầng do thiếu tính khả thi về kỹ thuật.


Điều này xuất phát từ tính chất xã hội hóa cao của hoạt động xây dựng. Trên thực tế, từ hàng chục năm nay, các nhà thầu xây dựng nước ngoài có mặt ở Việt Nam như một lý do tất yếu. Ngoài mục tiêu học hỏi và tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong xây dựng thì việc các nhà thầu nước ngoài có mặt ở Việt nam cũng bắt nguồn từ cam kết trong các Hiệp định song phương và đa phương về tín dụng, đầu tư, hỗ trợ....giữa ta và các nước, các tổ chức quốc tế.


10. Đặc điểm của quan hệ hợp đồng xây dựng ở nước ta

Qua nghiên cứu và tổng kết thực tiễn, có thể rút ra một số nhận xét sau:

- Tính không bình đẳng trong quan hệ hợp đồng xây dựng còn phổ biến, đặc biệt trong điều kiện vốn Nhà nước dành cho đầu tư xây dựng còn chiếm tỷ trọng lớn. Điều bất hợp lý ở đây là, Nhà nước vừa là một bên trong quan hệ hợp đồng nhưng lại có quyền ban hành các quy định điều tiết quan hệ đó. Điều này có thể dẫn tới các khả năng:

+ Cơ chế thực hiện các thỏa thuận hợp đồng không phù hợp;

+ Không rõ trách nhiệm khi có các sai sót xảy ra, đặc biệt trong thanh toán, phạt vi phạm hợp đồng....

Nghịch lý lớn nhất vẫn là, khi Nhà nước là người mua, họ có quyền đưa ra các yêu cầu nhưng theo cơ chế quản lý của nước ta, Nhà nước lại là người quản lý việc tạo lập ra các sản phẩm này. Hậu quả là, việc này có thể dẫn tới sự không minh bạch trong quản lý, thiếu công bằng về quyền và nghĩa vụ giữa chủ đầu tư (được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình) và nhà thầu (người thực hiện yêu cầu, tạo lập sản phẩm xây dựng) nên nguy cơ xảy ra tham nhũng là tất yếu, khó tránh khỏi mặc dù mức độ có thể khác nhau.

Một nội dung khác là bản thân Luật Xây dựng chỉ giải quyết vấn đề kỹ thuật và cơ chế quản lý việc thực hiện dự án đầu tư xây dựng mà không thể điều chỉnh được các vấn đề cốt lõi hơn trong ngăn chặn tham nhũng như cơ chế phân bổ, quản lý, tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư; cách phân chia dự án đầu tư xây dựng một cách khoa học; cơ chế quản lý, sử dụng cán bộ và đặc biệt là môi trường kinh doanh với sự tham gia không nhỏ của các doanh nghiệp ngành xây dựng. Chuyện không đi đêm, không lại quả mà có thể trúng thầu là một ví dụ hơi xa vời trong việc thực hiện các dự án đầu tư xây dựng hiện nay ở nước ta.

- Quan niệm về hợp đồng còn đơn giản, sơ sài, dễ dẫn tới vi phạm các thỏa thuận, làm giảm hiệu lực hợp đồng

- Khả năng hợp đồng bị vô hiệu theo quy định là cao do các chủ thể không tôn trọng triệt để các nguyên tắc giao kết như: người ký không đúng thẩm quyền, sai sót về hình thức, nội dung vi phạm điều cấm....Trong các hợp đồng có yếu tố nước ngoài, đây sẽ là thiệt thòi lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam

11. Giải pháp nào

- Sử dụng ý kiến tư vấn, đặc biệt các nội dung hay gây hiểu lầm, nhiều khả năng giải thích

- Sử dụng nhà tư vấn có hiểu biết về đối tượng hợp đồng vì đây là điểm yếu căn bản, các luật sư không rành rẽ về sản phẩm, dịch vụ xây dựng

- Điều khoản về giá, thời gian cần được soạn thảo chi tiết


Hợp đồng là khái niệm không xa lạ trong thực tiễn. Nó xuất hiện cùng với các mối quan hệ của con người như một sự lựa chọn dễ chịu và là nơi thử thách cũng như kiểm chứng uy tín của con người. Lịch sử hợp đồng mang lại cho nó nhiều cái tên hơn bất kỳ một khái niệm phổ biến nào khác, thí dụ thoả thuận, khế ước, giao ước, bản cam kết…Với bản chất là sự tự do ý chí trong vòng trật tự, hợp đồng được đặc biệt ưa thích trong quan hệ dân sự và thương mại vì đáp ứng tối đa mong muốn của các chủ thể. Qua thời gian, hợp đồng được sử dụng trong nhiều mối quan hệ xã hội với vô vàn những nội dung phong phú mà ngay cả các chủ thể của chúng cũng không thể hình dung hết. Trong đó, tranh chấp từ hợp đồng được xem như một động lực đáng kể tạo nên tính phong phú và đa dạng của hợp đồng.
Xây dựng là lĩnh vực quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội với vai trò tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật và điều kiện sống của con người. Các mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động xây dựng cũng được điều tiết đáng kể bởi hợp đồng; đó có thể là quan hệ giữa Nhà nước với các doanh nghiệp xây dựng trong việc tạo lập các công trình kết cấu hạ tầng; giữa doanh nghiệp xây dựng với các chủ đầu tư khác nhau; giữa các doanh nghiệp xây dựng với nhau,….

Nhìn chung, hệ thống các quy phạm pháp luật liên quan tới hợp đồng xây dựng Việt Nam còn đơn giản và thiếu tính tập trung cần thiết. Chúng ta còn có xu hướng gắn hợp đồng xây dựng với lĩnh vực mà một văn bản riêng biệt nào đó điều chỉnh. Điều này hết sức thiếu hợp lý vì hai lý do:

Một là, dễ tạo nên sự vi phạm nguyên tắc mang tính bản chất của hợp đồng là tự do thoả thuận và tôn trọng ý chí các bên;

Hai là, khiến các chủ thể khó hình dung các khía cạnh pháp lý liên quan tới hợp đồng, dễ đư¬a đến tình trạng hợp đồng vô hiệu và tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tranh chấp.

Kết quả là, ngay cả đối với cùng một đối tượng (hoạt động xây dựng) hợp đồng xây dựng cũng khoác lên mình rất nhiều cái tên với mức độ chi tiết, sự dài ngắn khác nhau.

Quy chế pháp lý đối với hợp đồng là khuôn khổ mà pháp luật tạo lập cho hợp đồng, nó ràng buộc hợp đồng về các vấn đề như: điều kiện để hợp đồng có hiệu lực, nguyên tắc thực hiện hợp đồng, vai trò của hợp đồng đối với bảo vệ các lợi ích xã hội, giải quyết tranh chấp từ hợp đồng…Mối quan hệ giữa tự do ý chí trong hợp đồng và các nguyến tắc của pháp luật đối với hợp đồng là vấn đề nhạy cảm theo hướng pháp luật không có quyền can thiệp sâu tới mức làm hạn chế thỏa thuận hoặc triệt tiêu thỏa thuận hợp đồng và ngược lại, hợp đồng không phải là công cụ để các chủ thể xâm hại các giá trị và lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ.
(LS. Nguyễn Trí Dũng - Phòng Cơ chế chính sách, Viện Kinh tế xây dựng)

Tùng, Vietcons.com

Nguồn: www.diendanxaydung.vn
__________________
[+] W W W . D I E N D A N X A Y D U N G . V N [+]
================================
NƠI HỘI TỤ CỦA NHÂN TÀI XÂY DỰNG
VP DDXD: số 2649 Phạm Thế Hiển, P7, Q8, TP HCM
SMOD E: puarin@gmail.com - M: 01234566306

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN XÂY DỰNG VIỆT
TRỤ SỞ: 528/59 ĐIỆN BIÊN PHỦ, P11, Q10, TP HCM
Tel: (84-8) 3981 8370 - Fax: (84-8) 3981 8372
CÔNG VIỆC: TƯ VẤN THIÊT KẾ - THI CÔNG NHÀ Ở
chiase.nhadep vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả Lời Với Trích Dẫn
Facebook Comments

Gởi Ðề Tài Mới  Trả lời


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Hạn Của Bạn
Bạn không có quyền đăng chủ đề mới
Bạn không có quyền đăng trả lời bài
Bạn không có quyền đính kèm files
Bạn không có quyền sửa bài của mình

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt


Các bài viết có nội dung tương tự
Ðề tài Người Gởi Chuyên Mục Trả lời Bài mới nhất
Các yêu tố gây chậm trễ và vượt chi phí ở các dự án xây dựng trong giai đoạn thi công Phoenix 1.Nguyên tắc chung 14 11-30-2011 04:22 PM
Sụp đất tại Sở Ngoại vụ TP Hồ Chí Minh forever Tin trong ngành 0 01-24-2008 12:02 PM
Vi phạm xây dựng ở cao ốc Pacific: Đủ yếu tố xử lý hình sự? Hoang Khaan Tin trong ngành 0 01-23-2008 08:50 PM
Bộ XD tổ chức Kiểm điểm công tác năm 2007 và Biện pháp kế hoạch năm 2008 ngành Xây dựng Airblade Tin qui hoạch 0 01-12-2008 09:24 AM


MENU
LIÊN HỆ QUẢNG BÁ

Chào mừng bạn tham gia thảo luận group facebook!
Doanh nghiệp VÀNG tin cậy trên DDXD!

Powered by: vBulletin v3.8.4 & Copyright © 2019, Jelsoft Enterprises Ltd.
Copyright © 2007-2016 DDXDVN & Tài trợ bởi www.CUNGXAYNHADEP.vn
Số ÐKKD: 4102071288 - Hỗ trợ pháp lý DDXĐVN bởi: Viet Cons Co.,Ltd
Người đại diện theo pháp luật: Ông Duong Quang (Administrator)
Hotline Administrator: 0903813337 - Email: duongquang@ddxd.vn
Quản lý DDXDVN: Cty TNHH Tư Vấn Xây Dựng Việt
DDXDVN : Được duy trì và phát triển bởi thành viên
Văn phòng : 2649 Phạm Thế Hiến, P7, Q8, TP HCM
Tel:(08) 3981 8370 Fax:(08) 3981 8372 L.hệ: Tài trợ
E-mail : support@ddxd.vn - duongquang@ddxd.vn
Quản lý Media : Cty TNHH Tìm Kiếm Màu Xám
Liên hệ : Hợp tác tài trợ, quảng bá Media
Văn phòng : 102D Lê Thị Riêng, Q1, TP HCM
Tel:(08) 3981 8370 Fax:(08) 3981 8372
Email: support@ddxd.vn - duongquang@ddxd.vn